Tính khả thi của Luật Thuế Tài sản sẽ… ‘rất thấp’?

In bài viết
(DNVN) - Tại Hội thảo khoa học "Khả năng áp dụng và tác động của Thuế tài sản ở Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phối hợp với Tổ chức Oxfarm tại Việt Nam tổ chức ngày 12/12, các chuyên gia nhấn mạnh tới tính khó khả thi của dự thảo Luật Thuế Tài sản, nếu được thông qua.


Tính khả thi của Luật Thuế Tài sản sẽ… ‘rất thấp’? ảnh 1
Hội thảo khoa học "Khả năng áp dụng và tác động của Thuế tài sản ở Việt Nam". (Ảnh: DNVN/Minh Hoa). 
Đánh thuế tài sản “khá phức tạp”

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính cho rằng, dự thảo Luật Thuế tài sản “có vấn đề” ngay từ tên gọi. Trên thế giới không gọi chung chung là Luật Thuế tài sản mà nêu cụ thể như luật thuế đất đai, thuế nhà ở hay thuế tài sản ròng. Đó là chưa kể tới việc đánh thuế tài sản “khá phức tạp” ở nhiều nước, không chỉ riêng Việt Nam. Do đó, việc người dân và giới chuyên môn phản ứng mạnh mẽ sau đề xuất đánh thuế tài sản của Bộ Tài chính là điều hết sức bình thường.

Theo ông Cường, Chính phủ chỉ nên đánh thuế bất động sản bởi đánh thuế tài sản với tàu, thuyền, ô tô là phi lý do những tài sản này mất giá theo thời gian và thực tế rất ít quốc gia đánh thuế vào các tài sản này.

"Từ rất lâu, tại nhiều quốc gia đã tranh luận nên đánh thuế liên quan đến tài sản hay không. Do đó, để áp dụng loại thuế này, Việt Nam phải có sự khác biệt và sự khác biệt đó phải dựa trên cơ sở nào. Một sắc thuế muốn thực hiện được thì cần hiệu quả, thực tiễn, ít mục tiêu và phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia", ông Cường nói.

Ông Cường cho biết, các nước giàu thu được thuế tài sản bởi tính đồng thuận của xã hội cao nhờ sự minh bạch và tính giải trình trong cả thu và chi tại các nước này rất cao. Trong khi đó, Việt Nam dù chưa có luật thuế có tên là thuế tài sản nhưng đã có nhiều luật thuế liên quan như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế đất phi nông nghiệp, thuế đăng ký trước bạ... Đây cũng là lý do để ông Cường đưa ra dự báo, tính khả thi của sắc thuế này tại Việt Nam là “rất thấp”.

Phân tích sâu hơn, dựa vào những nghiên cứu về ảnh hưởng của Luật Thuế tài sản đối với các hộ gia đình, TS. Nguyễn Việt Cường, Phó Viện trưởng Viện Chính sách công và Quản lý (ĐH Kinh tế Quốc dân) đã đưa ra các kịch bản thuế suất 0,3% và 0,4% đối với các ngưỡng 700 triệu đồng, 1 tỷ đồng và 2 tỷ đồng để đánh giá tác động.

Tính khả thi của Luật Thuế Tài sản sẽ… ‘rất thấp’? ảnh 2
Đó là, đối với ngưỡng 700 triệu đồng, nếu thuế suất 0,3% thì mức thuế mỗi hộ phải nộp là 978.000 đồng (bằng 0,66% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 638.000 đồng (bằng 0,27% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4% thì mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,3 triệu đồng (bằng 0,89% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 851.000 đồng (bằng 0,36% tổng chi tiêu).

Đối với ngưỡng 1 tỷ đồng, nếu thuế suất là 0,3%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 897.000 đồng (bằng 0,61% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 600.000 đồng (bằng 0,25% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,198 triệu đồng (bằng 0,82% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 800.000 đồng (bằng 0,34% tổng chi tiêu).

Đối với ngưỡng 2 tỷ đồng, nếu thuế suất là 0,3%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 763.000 đồng (bằng 0,53% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 525.000 đồng (bằng 0,22% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,019 triệu đồng (bằng 0,72% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 700.000 đồng (bằng 0,29% tổng chi tiêu).

Như vậy có thể thấy phương án thuế suất 0,3% và ngưỡng chịu thuế 2 tỷ đồng đối với nhà ở là có tác động nhỏ nhất với hộ gia đình. Phương án thuế suất 0,4% và ngưỡng chịu thuế 1 tỷ đồng đối với nhà ở có tác động nhỏ hơn đến các hộ gia đình nhưng vẫn duy trì được doanh thu thuế cao. Tuy nhiên, xét về tổng thể, thuế tài sản vẫn là “cú sốc về mặt tiêu dùng” khi tất cả các hộ nằm trong phạm vi chịu thuế, theo TS. Nguyễn Việt Cường.

Sự phức tạp trong việc đánh thuế tài sản tại Việt Nam cũng được TS. Phạm Thế Anh, Đại học Kinh tế Quốc dân đưa ra tại Hội thảo: “Việt Nam hướng tới là thuế nhà đất và tài sản trên đất. Mục đích đánh thuế là quan trọng nhất nhưng đưa vào thực thi thì phải rõ ràng. Theo tôi, thời gian qua Bộ Tài chính, Chính phủ khá loay hoay khi xác định mục đích đánh thuế".

Theo ông Thế Anh, ban đầu Bộ Tài chính đưa ra sắc thuế với mục tiêu là tái phân phối của cải, chống tham nhũng… nhưng chưa chắc chắn. Cái yếu của Chính phủ chính là thiếu hệ thống giám sát đối với chi tiêu từ các khoản thuế, chưa làm rõ thu để làm gì, ai hưởng và người dân tham gia giám sát như thế nào nên chưa tạo được sự đồng thuận.

Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện VEPR cho rằng: Thuế tài sản nếu được ban hành như dự thảo hiện nay sẽ làm giảm thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng tới đói nghèo và chủ yếu làm giảm thu nhập của người giàu. Do đó, chỉ số bất bình đẳng được cải thiện nhưng chủ yếu do người giàu bị nghèo đi chứ không phải do người nghèo được cải thiện. Vì vậy, đây không phải một sắc thuế bền vững, nếu chi tiêu công không thúc đẩy phúc lợi và năng suất toàn xã hội.

Nên tập trung vào cách xây dựng cơ chế thu và cách sử dụng nguồn thu

Sau khi phân tích những bất cập về dự thảo Luật Thuế tài sản ở Việt Nam, các chuyên gia đã kiến nghị cơ quan soạn thảo Luật Thuế tài sản cần trả lời được câu hỏi: Người dân sẽ nhận được gì sau khi đóng thuế tài sản?

“Chỉ nên đánh thuế tài sản với các bất động sản để đúng triết lý đánh thuế. Nếu đánh thuế tài sản với tàu, thuyền, ô tô là phi lý vì những tài sản này mất giá theo thời gian”, TS. Vũ Sỹ Cường khuyến nghị.

Tính khả thi của Luật Thuế Tài sản sẽ… ‘rất thấp’? ảnh 3
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet. 
Nên tập trung vào thuế địa phương để đẩy mạnh quy hoạch khu dân cư theo tốc độ phát triển. Thuế tài sản muốn lâu bền thì phải tránh trùng với thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế trước bạ. Cùng với đó, cần tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp trong cả thu và chi để người dân biết, từ đó mới không vấp phải phản ứng dữ dội từ người dân, theo PGS.TS. Nguyễn Đức Thành.

Ông Thành kiến nghị Chính phủ cần tập trung vào cách xây dựng cơ chế thu và cách sử dụng nguồn thu đó theo thông lệ quốc tế. Cần phải xem gốc gác vấn đề thêm luật thuế, thêm sắc thuế mới. Nếu chi tiêu chưa tiết kiệm thì không thể đưa ra luật thuế hay sắc thuế mới được. Đây là cốt lõi nhất về cân đối thu chi ngân sách.

Cũng theo ông Thành, không có thuế tài sản chung chung, mà cần cụ thể hóa thành một loại thuế nào đó, có bản chất liên quan đến tài sản. Ở Việt Nam đã có một số loại thuế như vậy. Việc thiết kế các luật thuế liên quan đến tài sản cần phải được xác định mục đích rõ ràng. Theo kinh nghiệm quốc tế, thuế BĐS là loại thuế địa phương và chính quyền địa phương có quyền hạn nhất định trong việc đặt ra thuế suất. Việc áp dụng luật thuế đại trà như trong dự thảo là đi ngược lại với thông lệ quốc tế, khó thực hiện.

“Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của ngân sách ở mọi cấp là điều cần thiết. Đặc biệt muốn cải thiện thu (được sự đồng thuận của người dân), phải nâng tính giải trình trong các khoản chi ngân sách. Việc cải thiện ngân sách cần bắt nguồn từ tiết kiệm chi, chứ không phải việc tăng cường thu”, ông Thành nhấn mạnh.

Đức Tân

tin bài khác