Tăng cường tiếp cận thị trường vốn: Đưa chứng chỉ không có quyền biểu quyết vào vận hành

In bài viết
(DNVN) - Đây là khuyến nghị của các chuyên gia tại Hội thảo "Tăng cường tiếp cận thị trường vốn Việt Nam" do Uỷ ban Chứng khoán và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức sáng 8/5.

Tăng cường tiếp cận thị trường vốn: Đưa chứng chỉ không có quyền biểu quyết vào vận hành ảnh 1
Hội thảo "Tăng cường tiếp cận thị trường vốn Việt Nam". Ảnh: DNVN/Minh Hoa. 
Vấn đề làm sao để huy động được nguồn vốn, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài được bàn thảo sâu tại Hội thảo. Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng chính là một trong những mục tiêu trọng tâm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hiện nay.

Chia sẻ tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Việt Hà, Ủy viên chuyên trách Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) nhấn mạnh: Cho dù hiện nay, trong số 376 công ty niêm yết trên Sở chỉ có 25 doanh nghiệp tại TPHCM mở room 100%, 3 doanh nghiệp mở room 51-70% nhưng sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài tại TTCK Việt Nam rất lớn. Nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ 24,6% giá trị giao dịch tại VN-Index, tương đương khoảng 31 tỷ USD và 27,35% trong VN30.

Nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ tiền vào Việt Nam không dễ và không có hàng hóa để đầu tư là khẳng định mà ông Lê Anh Tuấn, Phó Tổng giám đốc đầu tư, Trưởng phòng Nghiên cứu Công ty quản lý Quỹ Dragon Capital đưa ra tại Hội thảo.

Theo đó, tổng vốn hóa TTCK Việt Nam đang có khoảng 145 tỷ USD, nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 35 tỷ USD và room còn lại khoảng 18 tỷ USD. Một nửa room còn lại của thị trường đang nằm ở 5 công ty là nhóm cổ phiếu Vingroup (7,2 tỷ USD), VNM (1 tỷ USD), NVL (0,6 tỷ USD), POW (0,5 tỷ USD), 751 công ty đang niêm yết còn lại room nước ngoài là 8,5 tỷ USD, trung bình room nước ngoài tại các công ty này chỉ là 11 triệu USD/công ty.

Để thu hút nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa, đòi hỏi phải có giải pháp đa dạng hóa công cụ và giúp công ty huy động vốn, giúp Nhà nước cân bằng giữa thuận lợi kinh doanh và an toàn xã hội.

Giải pháp mà ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng CIEM đưa ra tại Hội thảo là cần đưa chứng chỉ không có quyền biểu quyết (NVDR) vào vận hành.

“Thế giới đã triển khai sản phẩm này từ rất lâu. Ngay quốc gia láng giềng là Thái Lan cũng đã triển khai từ năm 2000. Chúng ta thảo luận vấn đề này vào năm 2012 nhưng đáng tiếc cho đến nay vẫn chỉ dừng ở mức thảo luận", ông Phan Đức Hiếu nói.

Bổ sung giải pháp của Phó viện trưởng CIEM, ông Lê Anh Tuấn đề xuất thêm cần dùng NVDR của Thái Lan làm cơ sở để hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện tại Việt Nam và tạo ra sản phẩm NVDR Việt Nam. Đầu tiên có thể thí điểm ở một vài công ty đã hết room và có quản trị doanh nghiệp tốt, trong đó giai đoạn đầu phát hành 15% NVDR.

Vị đại diện cho Công ty quản lý Quỹ Dragon Capital cho biết: Các nước trong khu vực đã mở cửa thị trường từ lâu. NVDR của Thái Lan là sản phẩm có các quyền lợi tài chính giống như cổ phiếu thường, tính minh bạch cao, thuận lợi trong giao dịch. Tại Thái Lan, từ năm 2000 tới nay chưa có một tranh chấp nào giữa nhà đầu tư nước ngoài và công ty khi mua vào NVDR. Nhà đầu tư chỉ quan tâm đến việc mua lợi ích tài chính công ty mà không cần bỏ phiếu.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Việt Hà cho biết Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM đang nghiên cứu hai sản phẩm cổ phiếu không có quyền biểu quyết và chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quết và đã đề xuất lên UBCKNN để đưa vào dự thảo Luật chứng khoán sửa đổi.

Hội thảo khép lại với một khuyến nghị chung, đó là, vấn đề tham dự của NVDR cần được đưa vào Luật Doanh nghiệp, góp phần tăng cường tiếp cận thị trường vốn Việt Nam thời gian tới.

Loại hình cổ phiếu không có quyền biểu quyết tại các thị trường mới nổi được thực hiện theo hai phương thức khác nhau: cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết (Brazil, Philippines đang áp dụng) và chứng chỉ không có quyền biểu quyết - NVDR (Thái Lan đang áp dụng).

Giao dịch NVDR có thể được hình dung như sau: sau khi nhận được lệnh mua một cổ phiếu cụ thể dưới hình thức NVDR, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn NVDR sẽ tiến hành mua trên thị trường chứng khoán. Sau đó, Công ty sẽ bóc tách quyền biểu quyết bằng cách phát hành NVDR nêu đích danh cổ phiếu với số lượng tương ứng cho người mua. Số cổ phiếu gốc sẽ được ký quỹ tại Công ty để đảm bảo cho lượng NVDR tương ứng đã phát hành. Lệnh bán xảy ra theo quy trình ngược lại: Công ty sẽ bán số cổ phiếu ký quỹ ra thị trường chứng khoán, sau đó chuyển tiền cho người bán và thu hồi số NVDR về.

Bên cạnh mức sở hữu cao nhất 49% cổ phần thông thường, NVDR cho phép nới thêm 25% tỉ lệ sở hữu dành cho nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nhà đầu tư sở hữu NVDR không có quyền tham gia vào các quyết định của doanh nghiệp. Ngoại trừ quyền biểu quyết, những nhà đầu tư vào NVDR sẽ nhận được các lợi ích tài chính giống như cổ đông đầu tư trực tiếp như chính sách chia cổ tức, phát hành quyền mua, chứng quyền và ưu tiên trong trường hợp giải thể công ty.

NVDR có 3 ưu điểm lớn so với cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết: đơn giản, linh hoạt và thực hiện nhanh chóng hơn. Giá giao dịch NVDR của một cổ phiếu cụ thể đúng bằng giá của cổ phiếu đảm bảo có quyền biểu quyết tương ứng, tạo sự nhất quán về giá cổ phiếu trên thị trường. Vận hành NVDR sẽ tạo thuận tiện cho sở giao dịch chứng khoán trong trường hợp việc nới room cho nhà đầu tư nước ngoài được phê duyệt.

Minh Hoa

tin bài khác