Cung cấp điện tới 2030: Thực trạng, khó khăn và giải pháp

In bài viết
(DNVN) - Từ năm  2003-2018 EVN đã hoàn thành đưa vào vận hành 40 nhà máy điện với tổng công suất 20.586 MW.

Cung cấp điện tới 2030: Thực trạng, khó khăn và giải pháp ảnh 1
 
Theo báo cáo của EVN, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân, ngành năng lượng, điện lực đã có bước phát triển nhanh, về cơ bản đảm bảo nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu thụ điện trong những năm gần đây tăng với tốc độ cao, bình quân 12,04%/năm trong giai đoạn 2003-2018, điện thương phẩm năm 2018 đạt 192,1 tỷ kWh, tăng 5,5 lần so với năm 2003 (34,9 tỷ kWh).

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cho phát triển kinh tế - xã hội, trong giai đoạn 2003-2018, EVN đã hoàn thành đưa vào vận hành 40 nhà máy điện với tổng công suất 20.586 MW nhiều công trình nguồn điện lớn đã đưa vào vận hành vượt tiến độ như: Công trình Thủy điện Sơn La (2.400 MW) khánh thành ngày 23/12/2012, vượt trước thời hạn 3 năm so với Nghị quyết của Quốc hội, Thủy điện Lai Châu hoàn thành sớm 1 năm so kế hoạch. Các dự án nguồn điện cấp bách miền Nam như Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Nhiệt điện Vĩnh Tân 4, Nhiệt điện Duyên Hải 1 và 3 đưa vào vận hành đúng tiến độ đã góp phần quan trong trong việc đảm bảo cung ứng điện cho miền Nam thời gian qua. Đến cuối năm 2018, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn hệ thống dự kiến đạt 47.768 MW (tăng 5,41 lần so với năm 2003) đứng thứ 2 trong các nước ASEAN (sau Indonesia) và thứ 25 thế giới.

Giá trị khối lượng đầu tư toàn Tập đoàn lũy kế giai đoạn 2003-2018 đạt 1.141.676 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn đầu tư năm 2018 dự kiến đạt 117.843 tỷ đồng, gấp 6,37 lần so với năm 2003 (18.489 tỷ đồng). Giá trị đầu tư hằng năm của EVN bằng 8-10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Từ năm 2020 có thể đối mặt với nguy cơ thiếu điện

Theo dự báo từ nay đến năm 2030, nhu cầu sử dụng điện sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức cao. Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang chuẩn bị các điều kiện bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu tới những năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại (tỷ trọng công nghiệp chiếm 42-43% năm 2020, 40-41% năm 2035 trong cơ cấu kinh tế cả nước), ngành Điện cần phải đảm bảo sản xuất 265-278 tỷ kWh vào năm 2020 và khoảng 572-632 tỷ kWh vào năm 2030. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 là 10,3-11,3%/ năm, giai đoạn 2021-2030 khoảng 8,0-8,5%/năm.

Trên cơ sở cập nhật tiến độ các dự án nguồn điện đang triển khai trong thời gian tới theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, EVN đã tính toán cập nhật nhiều phương án cân bằng công suất - điện năng đến năm 2030.

Theo đó, với Phương án phụ tải cơ sở, tần suất nước về các hồ thủy điện ở mức trung bình nhiều năm thì từ năm 2019-2020: nhìn chung cung ứng điện có thể được đảm bảo. Tuy nhiên, nguồn nhiệt điện chạy dầu cần phải huy động với sản lượng tương ứng ~4,4 tỷ kWh vào năm 2019 và 5,2 tỷ kWh năm 2020. Trong trường hợp các tổ máy phát điện không đáp ứng độ tin cậy vận hành hoặc không đảm bảo đủ nhiên liệu (than, khí) cho phát điện, có thể đối mặt nguy cơ thiếu điện vào năm 2020.

Trong các năm 2021-2023, hệ thống điện không đáp ứng nhu cầu điện và nhiều khả năng xảy ra tình trạng thiếu điện tại miền Nam.

Tình trạng thiếu điện miền Nam có thể tăng cao hơn hoặc kéo dài ra cả giai đoạn đến 2025  do phụ tải tăng trưởng cao, cùng với đó lượng nước về các hồ thủy điện kém hơn trung bình nhiều năm; Nguồn khí Lô B, khí Cá Voi Xanh chậm tiến độ và  Các dự án nguồn điện mới tiếp tục bị chậm tiến độ so với cập nhật hiện nay (mỗi dự án nhiệt điện than 1.200 MW tại miền Nam bị chậm tiến độ sẽ làm mức độ thiếu điện tại miền Nam tăng thêm từ 7,2-7,5 tỷ kWh/năm).

Từ năm 2026 - 2030, nếu tiến độ các nguồn điện đáp ứng như dự kiến thì việc cung ứng điện may ra mới được cải thiện.

Như vậy có thể thấy việc đảm bảo cung ứng điện toàn toàn quốc trong thời gian tới sẽ có nhiều rủi ro mà EVN đã chỉ ra được nguyên nhân chính như: Các nguồn điện đã được khởi công xây dựng để đưa vào vận hành trong 5 năm tới rất thấp so với yêu cầu tại Quy hoạch điện VII điều chỉnh

Cụ thể theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh trong 5 năm 2018-2022, tổng công suất các nguồn điện dự kiến đưa vào vận hành là 34.864 MW, trong đó nhiệt điện là 26.000 MW. Thực tế hiện nay chỉ có 7 dự án NĐ than/7.860 MW đã được khởi công và đang triển khai xây dựng. Như vậy, còn trên 18.000 MW/26.000 MW các dự án nhiệt điện than dự kiến vào vận hành trong 5 năm tới nhưng đến nay chưa được khởi công xây dựng và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc cung ứng điện các năm tiếp theo.

Trong đó nhiều dự án nguồn điện, nhất là các dự án nhiệt điện tại miền Nam tiềm ẩn rủi ro và có thể sẽ tiếp tục bị chậm tiến độ so với đánh giá tại thời điểm hiện nay

Bên cạnh đó việc đảm bảo nguồn nhiên liệu cho phát điện còn tiềm ẩn rủi ro: các nguồn khí thiên nhiên trong nước hiện đang khai thác đã suy giảm nhưng chưa có nguồn cấp khí thay thế. Tiến độ dự kiến khí lô B và khí Cá Voi Xanh vẫn còn nhiều rủi ro về tiến độ.

Ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng Giám đốc EVN cho biết: Trên cơ sở tình hình thực hiện Qui hoạch điện VII điều chỉnh và kết quả cân đối cung cầu điện cập nhật đến năm 2030, để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội, EVN đề xuất thực hiện các nhóm giải pháp chính như sau:

Cung cấp điện tới 2030: Thực trạng, khó khăn và giải pháp ảnh 2
 
Hồ thủy điện Yaly
Giải pháp kiểm soát nhu cầu phụ tải

Đó là các Công ty điện lực địa phương phải yêu cầu các phụ tải thực hiện triệt để các giải pháp sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả và quản lý nhu cầu sử dụng điện (DSM), ưu tiên cho khu vực miền Nam. Trong đó cần có cơ chế của nhà nước để đẩy mạnh chương trình điều tiết phụ tải (Demand respond).

Đồng thời thực hiện giá bán điện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước và mục tiêu sản xuất kinh doanh, tự chủ tài chính của các doanh nghiệp ngành điện. Giá bán điện cần kích thích phát triển ngành điện, tạo môi trường thu hút đầu tư và khuyến khích cạnh tranh trong các khâu sản xuất, truyền tải, phân phối, bán lẻ và sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả.

Kiểm tra giám sát các cơ sở sản xuất công nghiệp trong việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức về sử dụng năng lượng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; lựa chọn áp dụng quy trình và mô hình quản lý sản xuất tiên tiến, biện pháp công nghệ phù hợp và thiết bị công nghệ có hiệu suất cao.

Khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời phân tán và các dự án điện mặt trời tại các khu vực khả thi về đấu nối, đặc biệt hỗ trợ và khuyến khích khách hàng sử dụng điện (sinh hoạt, khu công nghiệp, thương mại dịch vụ) đầu tư phát triển các dự án điện mặt trời áp mái, đặc biệt ở khu vực miền Nam.

Giải pháp về đảm bảo nguồn điện

Từ nay đên năm 2021: Phải thực hiện và hoàn thành Đảm bảo tiến độ đưa vào vận hành các công trình nguồn điện, đặc biệt các nguồn điện khu vực phía Nam như: các dự án Nhiệt điện Long Phú 1, Sông Hậu 1, BOT Duyên Hải 2; Đảm bảo tiến độ phát điện trở lại nhà máy Thủy điện Xekaman 3-Lào (2020).

Đảm bảo cung cấp đủ khí cho phát điện, trong đó bổ sung kịp thời nguồn khí mới để thay thế cho các nguồn khí hiện hữu tại khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ đang suy giảm.

Có cơ chế về khung giá mua điện tử Lào để đẩy nhanh việc đàm phán với phía Lào (các CĐT các nguồn điện, EDL) nhằm thu gom các nguồn điện tại Nam Lào và các đường dây đấu nối để nhập khẩu về Việt Nam qua các đường dây 220 kV hiện hữu.

Tăng cường nhập khẩu điện từ Trung Quốc ở phía Bắc theo phương án cách ly lưới điện.

Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch và tập trung đầu tư công trình lưới điện 220-110kV để đấu nối truyền tải các nguồn điện năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời).

Tạo điều kiện để phát triển các dự án điện mặt trời, ưu tiên phát triển các dự án gần trung tâm phụ tải, thuận tiện đấu nối.

Từ năm 2021-2025 và đến năm 2030: Sẽ tiến hành đàm phán với Chủ đầu tư các nhà máy điện tại Lào để đấu nối bán điện trực tiếp về lưới điện Việt Nam.

Đồng thời phải giải quyết các vướng mắc và có cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tiến độ Chuỗi dự án khí Lô B, khí Cá Voi Xanh và các dự án nguồn điện đồng bộ.

Ưu tiên khí cho phát điện và giảm lượng khí cấp, thậm chí dừng cấp khí cho các hộ tiêu thụ khác (đạm, thấp áp, GPP Cà Mau...) để đảm bảo an ninh năng lượng, nhất là các năm 2020-2025.

Tiếp tục nghiên cứu các địa điểm có tiềm năng để đầu tư phát triển các trung tâm điện lực để bổ sung thêm nguồn cung cho HTĐ Quốc gia, trong đó có cả tìm kiếm địa điểm phù hợp để đầu tư hệ thống kho, cảng và nhà máy điện khí sử dụng nguồn LNG nhập khẩu tại khu vực phía Nam.

Tiếp tục khuyến khích địa phương đặc biệt các tỉnh khu vực miền Trung, miền Nam đầu tư các dự án điện mới (như tại Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Bình Định, Ninh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu ...).

Tiếp tục khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt điện mặt trời áp mái để giảm nhu cầu sử dụng điện và tăng cường nguồn cung cho hệ thống.

Gia Hân

tin bài khác