Tốc độ tăng kim ngạch XK khu vực trong nước cao hơn khu vực FDI

In bài viết
(DNVN) - Theo Bộ Công Thương, trong 9 tháng đầu năm 2019, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng của khu vực kinh tế trong nước đạt 16,4%, cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Bộ Công Thương cho biết: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2019 ước tính đạt 382,72 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 194,3 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu ước đạt 188,42 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Về xuất khẩu hàng hoá, tính chung 9 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 194,3 tỷ USD, tăng 8,2%, bằng 73,9% kế hoạch năm. Mặc dù đây là mức tăng thấp hơn so với cùng kỳ của năm 2017, 2018 (tăng tương ứng 20,6% và 15,8%) nhưng cho thấy nỗ lực rất lớn và là xu hướng tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu diễn biễn phức tạp.

Tốc độ tăng kim ngạch XK khu vực trong nước cao hơn khu vực FDI ảnh 1
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet. 
Đáng chú ý, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng của khu vực kinh tế trong nước đạt 16,4%, cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (5%), qua đó tỉ trọng của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng tăng lên, chiếm 30,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm trước là 28,5%). Như vậy, sau khi đạt mức tăng trưởng khá cao trong năm 2018, khối doanh nghiệp trong nước tiếp tục là điểm sáng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2019 với mức tăng 16,4%, cao gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng chung cả nước (đạt 8,2%) và tăng gấp hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng của khối doanh nghiệp FDI (đạt 5%).

Trong 9 tháng đầu năm 2019 có 31/45 mặt hàng có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, có 28 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 90,96% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước ghi nhận sự vươn lên mạnh mẽ và tiếp tục có tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung. Khác với các năm trước đây, động lực tăng trưởng của khối trong nước không đến từ nhóm nông sản, thủy sản mà đến từ các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp. Cụ thể, trong khi xuất khẩu nhóm nông sản, thủy sản giảm 5,7% so với cùng kỳ thì nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2018, qua đó đóng góp vào mức tăng trưởng xuất khẩu chung. Xuất khẩu nhiều mặt hàng như gỗ và sản phẩm gỗ, các sản phẩm dệt may, sản phẩm chất dẻo, cao su,... của khối doanh nghiệp trong nước đều đạt mức tăng trưởng tốt. Điều này thể hiện những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế đã thực sự tác động, tạo thuận lợi cho sản xuất và hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Tăng trưởng xuất khẩu của khối các doanh nghiệp trong nước đã trở thành động lực cho sự phát triển của nền kinh tế.

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Tỉ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 84,23% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn mức 82,6% của năm 2018 và 81,1% của năm 2017.

Về nhập khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hoá 9 tháng đạt 188,42 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018. KNNK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 109,4 tỷ USD, chiếm 58,08% tổng KNNK cả nước, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2018. KNNK của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 78,97 tỷ USD, chiếm 41,92% KNNK cả nước, tăng 14%.

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 166 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 88,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch cao nhất và đồng thời đây cũng là một trong những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất, đạt 38,65 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2018; kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cũng tăng mạnh 13,1%; vải các loại tăng 3,2%; sản phẩm từ chất dẻo tăng 10,7%...

Đáng chú ý, ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ nhập khẩu tăng mạnh tới 3,86 lần về lượng và 3,5 lần về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, đạt 73.063 chiếc với trị giá 1,39 tỷ USD.

Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 55,5 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 35,4 tỷ USD, tăng 1%; thị trường ASEAN đạt 24,1 tỷ USD, tăng 3,8%; Nhật Bản đạt 14,1 tỷ USD, tăng 1,8%; thị trường EU đạt 11 tỷ USD, tăng 10,3%; Hoa Kỳ đạt 10,7 tỷ USD, tăng 12,6%.

Đức Tân

tin bài khác