Thời điểm “vàng” để Việt Nam phát triển

In bài viết
(DNVN) - Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2018.

Nhằm thảo luận rộng rãi về các lĩnh vực liên quan đến cải cách và xây dựng thể chế mới, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển bền vững, Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2018  (Vietnam Reform and Development – VRDF) đã được tổ chức sáng 5/12 tại Hà Nội.

Đây là diễn đàn thường niên kế thừa Diễn đàn phát triển Việt Nam, Diễn đàn Đối tác phát triển VDPF, Hội nghị nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) tổ chức thường niên tronh suốt 25 năm qua.

Tuy nhiên, thay vì hoạt động đối thoại đơn thuần giữa các đối tác phát triển với Chính phủ Việt Nam như trước đây, theo Ban tổ chức, VRDF không chỉ có các đối tác phát triển mà còn đại diện khu vực tư nhân, giới học giả, nghiên cứu, truyền thông… cũng như các tổ chức/cá nhân có liên quan, quan tâm đến sự phát triển của đất nước, trao đổi thảo luận để tìm kiếm và đề xuất các giải pháp, các hành động cụ thể thông qua các cơ quan hoạch đinh chính sách để chuyển hóa nhanh nhất thành các hành động chính sách cải cách của Chính phủ.

Thời điểm “vàng” để Việt Nam phát triển ảnh 1
 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng.
Phát biểu tại lễ khai mạc diễn đàn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: Hơn 30 năm đổi mới đã làm thay đổi diện mạo kinh tế Việt Nam, đời sống người dân được cải thiện, tỉ lệ đói nghèo giảm mạnh, Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Theo Bộ trưởng, tính đến hết năm 2017, quy mô dân số đạt khoảng 94 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 224 tỷ USD, xếp thứ 45; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 2.300 USD, xếp thứ 134; tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 6,81% và dự kiến năm 2018 có thể đạt cao hơn; chỉ số phát triển con người (HDI) đứng thứ 116/189 quốc gia; hệ số bất bình đẳng về phân phối thu nhập (GINI) ở mức tích cực, 0,43 điểm. Các chỉ số về năng lực cạnh tranh quốc gia và môi trường kinh doanh đạt nhiều tiến bộ đáng khích lệ. Năm 2017, năng lực cạnh tranh xếp hạng 55/137, tăng 5 bậc; môi trường kinh doanh xếp hạng 68/190, tăng 14 bậc; đổi mới sáng tạo xếp hạng 47/127, tăng 12 bậc. Trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp, Việt Nam đã vươn từ vị trí thứ ba năm 2016 lên vị trí thứ nhất.
Đạt được kết quả tích cực nêu trên là nhờ sự nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị, của cả xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và sự hợp tác, hỗ trợ hiệu quả của cộng đồng quốc tế, nhất là các đối tác phát triển. Nền kinh tế Việt Nam những năm tới hứa hẹn cả những thách thức và cơ hội đan xen. Một số kịch bản kinh tế đã được đưa ra với triển vọng tăng trưởng trung bình của Việt Nam ước đạt 6,85% trong các năm 2018-2020. Mặc dù vậy, Chính phủ vẫn luôn ý thức được những thách thức và khó khăn, cả những vấn đề nội tại cũng như những tác động khách quan từ bên ngoài có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Bộ trưởng cũng cho rằng: Câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là làm thế nào để tận dụng triệt để được mọi cơ hội, nhất là cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vượt qua được các khó khăn, thách thức, làm rõ các động lực tăng trưởng mới với tầm nhìn phát triển trong kỷ nguyên mới gắn liền với tư duy đổi mới, cải cách để tìm ra phương án tốt nhất cho bài toán tăng trưởng và phát triển của Việt Nam, hướng tới tăng trưởng bứt phá, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở tận dụng thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại, có nền kinh tế thị trường tiên tiến, phát triển bền vững lấy mục tiêu phát triển con người là trọng tâm, đảm bảo thực hiện các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Thời điểm “vàng” để Việt Nam phát triển ảnh 2
 Toàn cảnh Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2018.
Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nhanh chóng, có tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, làm thay đổi mạnh mẽ từ tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, phương thức kinh doanh đến cách thức tiêu dùng, cách thức giao tiếp, thậm chí làm thay đổi cả con người, chúng ta đang đứng trước yêu cầu lịch sử là phải đổi mới, cải cách mạnh mẽ, căn bản để tiếp tục phát triển, đi lên. Vì nếu không thực hiện đồng thời cải cách và phát triển, chúng ta sẽ ngay lập tức bị tụt hậu so với thời đại.
Mặt khác, đây là thời điểm “vàng” bởi chúng ta đang đứng trước những cơ hội quý. Cơ hội về tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao, tỉ lệ qua đào tạo ngày càng tăng; cơ hội về hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; cơ hội tiếp cận và tận dụng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; cơ hội về dòng vốn đầu tư từ các nền kinh tế phát triển, từ các tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia ngày càng chảy nhiều hơn vào các nước phát triển và các nền kinh tế mới nổi... Thời gian và vận hội sẽ không chờ đợi chúng ta!
Tuy nhiên, để làm được điều này, theo Bộ trưởng, chúng ta cần phải ý thức được những vấn đề khó khăn, thách thức phải giải quyết trong giai đoạn tới, nhất là những vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa cải cách và phát triển, trong cả nhận thức và hành động; dự báo và ứng phó được với những tác động bất lợi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Do đó, cần phát hiện và tận dụng được những cơ hội do cuộc cách mạng này đem lại, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ; cải thiện cho được những chỉ số cấu thành năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam, nhất là về môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, hạ tầng, tiếp cận với công nghệ thông tin và truyền thông; huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là nguồn lực của khu vực tư nhân, nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đồng thời, phát triển khu vực kinh tế tư nhân năng động, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh toàn cầu, trở thành động lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế đất nước; liên kết, hợp tác cùng phát triển giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài; ứng phó hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo phát triển bền vững...; mặt khác, giảm thiểu được những thách thức, tác động tiêu cực của cuộc cách mạng này, nhất là việc sử dụng ngày càng rộng rãi robot thay thế cho con người.
Trên cơ sở xác định rõ nền kinh tế đang ở đâu trong quá trình phát triển, ý thức được những khó khăn, thách thức, nhận diện và tận dụng triệt để được mọi cơ hội, dù là nhỏ nhất, cho cải cách và phát triển, chúng ta cần tập trung xác định những động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng và phát triển. Trong đó, động lực tăng trưởng nền móng của nền kinh tế Việt Nam chính là cải cách thể chế kết hợp với tập trung nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các chính sách, giải pháp phù hợp, hữu hiệu, nhất là thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao; phát triển kinh tế tư nhân trong mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; phát triển nguồn nhân lực, đây là yếu tố quyết định sự thành công và hiệu quả của tất cả những động lực khác.
Cuối cùng, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh “mọi chính sách của Chính phủ phải hướng tới hạnh phúc của người dân”, do đó Chính phủ sẽ tiếp tục cải cách, đổi mới hơn nữa để tận dụng cơ hội phát triển cho người dân và đất nước.
Hương Lan

bài liên quan

tin bài khác